Tình hình trốn thuế, tránh thuế ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

LỜI NÓI ĐẦU

Thuế là một trong những khoản thu ngân sách quan trọng nhất của nhà nước. Nộp thuế là trách nhiệm và nghĩa vụ của mội người dân và các tổ chức xã hội khác. Hiện nay, các Nhà nước thông qua việc thuế để điều tiết một phần thu nhập của người giàu, nhằm góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo đang ngày một nới rộng. Đối với Việt Nam, nguồn ngân sách NN được tài trợ chủ yếu bằng thuế và lệ phí. Tuy nhiên nguồn tài trợ này đang bị thất thoát đáng kể thông qua hoạt động trốn thuế và tránh thuế của các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, trong quá trình mở cửa nền kinh tế, hội nhập càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua các công ty đa quốc gia (TNCs) đến từ nhiều nước trên thế giới.

Tuy nhiên, cùng với những lợi ích to lớn mà các công ty này mang lại cho nền kinh tế nước ta thì nhiều vấn đề phức tạp cũng đã nảy sinh. Trong đó phải kể đến vấn đề trốn thuế, tránh thuế của các công ty đa quốc gia đang ngày càng phát triển với quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây thất thu nghiêm trọng cho NSNN. Và nó đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý thuế của chúng ta hiện nay. Thực tế, công tác thanh tra, kiểm toán các doanh nghiệp của chúng ta vẫn còn nhiều yếu kém nên việc phát hiện và xử lý trốn thuế và tránh thuế của các doanh nghiệp chưa được thực hiện triệt để. Do đo, việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp để hạn chế các hành vi trốn thuế và tránh thuế của các doanh nghiệp luôn là vấn đề thời sự cấp bách.

Từ những nhận định trên đây, nhóm 1 – lớp TCDN 51A xin đưa ra một số ý kiến về vấn đề trốn thuế và tránh thuế của các doanh nghiệp hiện nay và những giải pháp để hạn chế tình trạng trên. Do khuôn khổ kiến thức, thời gian tìm hiểu có hạn, nhóm tôi chỉ xin đưa ra những cái nhìn chủ quan để chúng ta cùng thảo luận và xem xét vấn đề trên cho nên không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành của cô giáo và các bạn.

Xin chân thành cảm ơn!

TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH

Chương I: Tổng quan về thuế

I.1. Khái niệm, nguyên tắc và đặc điểm của Thuế

I.2. Vai trò của thuế

I.3. Thực trạng thuế ở Việt Nam và một số nước khác

 Chương II: Tình hình trốn thuế, tránh thuế ở Việt Nam

II. 1. Khái niệm trốn thuế, tránh thuế

II.2. Tình hình trốn thuế, tránh thuế ở nước ta hiện nay.

II.2.1. Các cách trốn thuế, tránh thuế hay được sử dụng

II.2.2 Thực trạng trốn thuế và tránh thuế của các doanh nghiệp Việt Nam

II.3. Đánh giá, phân tích về trốn thuế, tránh thuế

II.3.1. Từ góc độ doanh nghiệp

II.3.2. Từ góc độ xã hội

 Chương III: Nguyên nhân và giải pháp cho hiện tượng trốn thuế, tránh thuế ở Việt Nam

III.1. Nguyên nhân phát sinh và tồn đọng hành vi trốn thuế, tránh thuế

III.2. Giải pháp khắc phục tình trạng trốn thuế, tránh thuế ở nước ta

Chương I

Tổng quan về thuế

 

I.1. Khái niệm, nguyên tắc và đặc điểm của Thuế:

I.1.1. Khái niệm về Thuế:

              Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện.

- Theo các nhà kinh điển:

Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại và thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế.

  – Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze đã đưa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế. Theo tác giả:

Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước.

- Khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau:

Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước.

 - Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau:

Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

 - Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau:

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại

 - Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau:

Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước.

I.1.2. Phân loại Thuế:

I.1.2.1. Phân loại theo tính chất hành chính:

Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng: thuế được phân thành hai loại:

+ Thuế nhà nước (quốc gia)

+ Thuế địa phương.

Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung – dân chủ: Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền địa phương không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng. Tất cả các nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Vì vậy,  hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân loại này.

 I.1.2.2. Phân loại theo tính chất kinh tế:

Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa theo 3 tiêu thức chủ yếu: theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế.

+ Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia thành thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập được tích luỹ).

+ Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại: thuế đánh vào doanh nghiệp, thuế đánh vào hộ gia đình và thuế đánh vào sản phẩm.

+ Nếu dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế, thí dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản…

 I.1.2.3. Phân loại dựa theo tính chất kỹ thuật

             Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang tính cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc tranh luận. Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau:

« Thuế trực thu và thuế gián thu:

 - Thuế gián thu. (Indi rect taxes): là loai thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế. Thuế gián thu là loại  thuế  được  cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành trong giá mua hàng hoá, nhằm động viên sự đóng góp của người  tiêu dùng.

Thực chất người tiêu dùng phải trả khoản thuế đó nhưng lại nộp thông qua nhà kinh doanh, nhà sản xuất. Như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…

- Thuế trực thu. (Di rect taxes): Thuế trực thu do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước. Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế

 Theo cách phân loại này có thể chia thuế thành:

              – Thuế đánh vào hoạt động kinh doanh, dich vụ như: thuế giá trị gia tăng.

                    – Thuế đánh vào hàng hoá tiêu dùng đặc biệt như: thuế tiêu thụ đặc biệt.

                    – Thuế  đánh  vào  thu  nhập  như:  thuế  thu  nhập  cá  nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.

                    – Thuế đánh vào tài sản như : thuế nhà đất, lệ phí trước bạ.

      – Thuế đánh vào việc sử dụng một số tài sản quốc gia như: thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp.

« Thuế tỷ lệ, thuế luỹ tiến:

Theo cách phân loại này, thuế tỷ lệ là loại thuế áp dụng một thuế suất như nhau đối với mọi đối tượng chịu thuế, còn thuế luỹ tiến là loại thuế áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế. Thông thường, đối với các sắc thuế tiêu dùng thường áp dụng thuế suất tỷ lệ; đối với các sắc thuế thu nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất luỹ tiến

« Thuế theo mức riêng biệt và thuế tính theo giá trị:

Theo cách này, được xếp vào loại thuế có mức riêng biệt (cũng có thể được dịch là thuế đặc biệt, quen được gọi là thuế tuyệt đối) nếu trong đó, mức thuế suất được xác định bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng, khối lượng, diện tích…), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng. Loại thuế này có lợi thế là rất đơn giản, không cần phải xác định giá trị của đối tượng bị đánh thuế nhưng lại có bất lợi là không thích ứng trong trường hợp tiền tệ bị mất giá. Ở một số nước, loại thuế này thường được áp dụng dưới hình thức thuế rượu, thuế thuốc lá, thuế bia…

Ngược lại, thuế tính theo giá trị là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế. Ưu điểm của loại thuế này là tính toán đơn giản, tiện lợi và được áp dụng chủ yếu đối với các loại thuế tiêu dùng như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Riêng thuế theo mức riêng biệt ở nước ta ít sử dụng.

Ngoài các cách phân loại trên đây, trong thực tế ở một số nước còn có những cách phân loại khác, ví dụ như: thuế phân tích và thuế tổng hợp; thuế phân bổ và thuế định

 I.1.3. Nguyên tắc quản lý thuế: (theo Điều 4, Luật quản lý Thuế)

« Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.

« Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

« Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.

I.1.4. Đặc điểm của thuế:

            « Thuế là khoản trích nộp bằng tiền:

Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá – tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường

            « Thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực:

Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống pháp luật thuế). Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.

            «Thuế là khoản thu có tính chất xác định:

 Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương. Trái ngược với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp.

            « Thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước:

Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; họ cũng không có quyền đòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này hay lý do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này.

Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thuế không có đối khoản cụ thể. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Khái niệm “chi tiêu của Nhà nước” ngày nay không thể hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ bao gồm các chi phí liên quan đến chức năng duy trì bộ máy của Nhà nước để thực hiện các chức năng của Nhà nước, mà còn gồm các chi phí cho việc thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội. Chính vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuế trên hai góc độ: thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế.

 I.2. Vai trò của thuế:

I.2.1. Thuế l à nguồn thu chủ yếu của ngân sách:

            – Một nền tài chính quốc gia lành mạnh và vững chắc phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền  kinh  tế quốc dân. Thuế là nguồn thu quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc  dân theo đường lối xây dựng kinh tế định hướng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hiện nay nguồn thu từ nước ngoài  giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành có vay, có trả. Trước mắt, thuế phải là một công cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội và phát triển kinh tế bền vững.

- Với  cơ cấu kinh tế  nhiều thành phần, hệ  thống thuế  phải được áp dụng thống nhất giữa các thành  phần kinh tế, thuế phải bao quát hế t các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tài nguyên chịu thuế và  tiêu dùng xã hội.

 I.2.2. Thuế góp phần đi ều chỉ nh nền ki nh tế:

Ngoài  việc  huy động nguồn thu cho ngân sách, thuế có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nền  kinh tế. Thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập. Vì vậy căn cứ vào tình hình cụ thể, nhà nước sử  dụng công cụ này để chủ động điều hành nền kinh tế.

Lúc nền kinh tế quá thịnh thì việc gia tăng thuế có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của tổng nhu cầu làm giảm phát triển của kinh tế. Những mặt hàng quan trọng như xăng dầu, sắt thép… khi có sự biến động giá cả trên thế giới, để ổn định giá cả trong nước nhà nước thông qua công cụ thuế để ổn định giá cả. Như vậy, qua việc xây dựng các luật thuế mà nhà nước  có thể chủ động phát  huy  vai trò điều hoà nền kinh tế. Dựa vào công cụ thuế, nhà nước  có  thể  thúc  đẩy hoăc  hạn chế  việc  tích luỹ  đầu tư, khuyến khích xuất khẩu….

 I.2.3. Thuế góp phần bảo đảm bì nh đẳng gi ữa các thành phần ki nh tế và công bằng xã hội :

             Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội

Sự bình đẳng và công bằng xã hội được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các  đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đằng về nghĩa vụ đối với mọi công dân, không có đặc quyền, đặc lợi cho bất kì đối tượng nào

            Công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa. Người có thu nhập cao phải đóng thuế  nhiều  hơn người có thu nhập thấp.Tuy nhiên phải để người có thu nhập cao chính đáng được hưởng thành quả lao  động  của mình thì mới khuyến khích họ phát triển sản xuất kinh doanh, tránh lạm thu, trùng lắp để đảm bảo  công bằng và bình đẳng xã hội.

             Bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ là đạo lý, lý thuyết mà phải được biểu hiện bằng luật pháp, chế  độ qui định của nhà nước. Phải có những biện pháp chống thất thu về thuế đối với  đối tượng nộp thuế, về căn cứ tính thuế, về tổ chức quản lý thu thuế, về chế độ miễn giảm thuế, về kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với các vụ  vi phạm trốn thuế…

 I.3. Thực trạng thuế ở Việt Nam và một số nước khác:

I.3.1. Thực trạng thuế ở Việt Nam:

Thuế quan ở nước ta đóng vai trò quan trọng trong việc thu ngân sách quốc gia (chiếm khoảng 30% tổng thu ngân sách).

Hệ thống thuế Việt Nam gồm 9 sắc thuế chủ yếu chia làm hai loại: thuế trực thu và thuế gián thu.Các sắc thuế trực thu bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất, thuế tài nguyên và thuế sử dụng đất nông nghiệp. Các nguồn thuế trực thu ở các nước luôn có tỷ trọng cơ cấu rất cao, thường từ 30%, có nước chiếm tới một nửa ngân sách Nhà nước. Đây cũng sẽ là hướng điều chỉnh quan trọng của chính sách thuế Việt Nam trong thời gian tới. Có thể thấy điều đó trong thời gian qua qua việc tăng cường, mở rộng diện thu từ các khoản thuế nhà đất, rồi thuế thu nhập dành cho người có thu nhập cao, ban hành Luật thuế tài sản đánh vào mua sắm và sở hữu bất động sản, sửa đổi, bổ sung thuế tài nguyên nhằm điều tiết hợp lý nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên…

            Thuế  TNDN  là nguồn thu chính trong thuế gián thu, ta có thể thấy  chỉ riêng với con số thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp trong Bảng xếp hạng V1000-  Top 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam, do Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) phối hợp với Báo điện tử VietNamNet công bố ngày 23/9/2010, các doanh nghiệp đã đóng góp trung bình mỗi năm tới khoảng hơn 7% trong tổng thu Ngân sách nhà nước, mặc dù con số 1.000 doanh nghiệp chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ trong tổng số hơn 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

Tuy nhiên, do cơ chế quản lý còn nhiều hạn chế, chưa được nâng tầm, đáp ứng mục tiêu cải cách, hiện đại hoá và hội nhập, phù hợp với thông lệ quốc tế nên một số lượng lớn thuế đã bị thất thu. Hiện tượng “đi đêm” trên thị trường bất động sản, người bán và người mua cấu kết với nhau tránh thuế thu nhập cá nhân, cùng với sự rung túng, hám lợi của nhà quản lý làm thất thoát của nhà nước hàng trăm tỷ đồng mỗi năm!

Các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để giảm thiểu số thuế phải đóng! Vì lợi ích kinh tế của họ, mà mọi lúc, mọi nơi họ luôn tìm cách lách luật, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước. Dựa vào con số thống kê cho thấy,chỉ trong hai năm 2005- 2006, cơ quan thuế và công an đã khám phá và xử lý tới 1.259 vụ với 179 đối tượng điển hình như Công ty Dược phẩm (Công ty dược liệu trung ương 2, xí nghiệp liên hiệp dược Hậu Giang) với hành vi gian lận thuế qua hoạt động đại lý tiêu thụ hàng hóa cho công ty nước ngoài. Số thuế thu nhập doanh nghiệp bị truy thu là 3.132 triệu đồng. Ngoài ra công an Hà Hội và phòng thanh tra 1 Cục thuế Hà Nội điều tra xác minh và khởi tố vụ án 6 công ty TNHH thành lập ra để bán hóa đơn, thu hồi 595 triệu đồng tiền thu lợi bất chính… Hay trong thời gian gần đây, là sự phanh phui ra hàng loạt các doanh nghiệp trong nước và liên doanh khai lỗ để trốn đóng thuế thu nhập doanh nghiệp.

2 Responses to Tình hình trốn thuế, tránh thuế ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

  1. snowflower says:

    ko xem được hết hichic

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>